Hội viên chính thức

English

Những điều cần biết về phẫu thuật thẩm mỹ


I- Chương 1: Những phương pháp phẫu thuật thông thường trên cơ thể II- Chương 2: Tái tạo Da III- Chương 3: Điều trị sẹo mụn IV- Chương 4: Xóa nốt ruồi, vết xăm

Chưong  1: Những phương pháp phẫu thuật thông thường trên cơ thể

01- Hút mỡ bụng
02- Chỉnh hình thành bụng
03- Hút mỡ và căng da cánh tay
04- Phẫu thuật nâng ngực
05- Phẫu thuật thu nhỏ tuyến vú
06- Phẫu thuật thẩm mỹ cho phụ nữ sau khi sinh
07- Điều trị thu nhỏ tuyến vú ở phái nam
08- Cà da mặt
09- Những thành tựu mới trong việc lột da mặt
10- Kỹ thuật lột da
11- Sau khi lột da mặt bằng TCA

II- Chương 2: Tái tạo Da 


12- Tái tạo da mặt
13- Vitamin C và sự lão hóa
14- Vitamin E và sự lão hóa
15- Ảnh hưởng của thuốc là đối với da
16- Biến đổi da khi lớn
17- Da mặt bị mất màu
18- Điều trị da mặt
19- Điều trị da bị lão hóa
20- Xóa nếp nhăn trên trán
21- Tiêm thuốc chống nếp nhăn ở mặt
22- Lột da mặt bằng TCA
23- Săn sóc sau khi lột da mặt
24- Căng da mặt có bị sẹo không?
25- Sau khi căng da mặt phải nghỉ việc bao lâu?
26- Sau khi căng da mặt bao lâu thì có thể tẩy lông mặt?
27- Sau khi căng da mặt bao lâu có thể gội đầu và sấy tóc được?
28- Phẫu thuật da mặt ở người cao tuổi
29- Nên chọn căng hay lột da mặt?
30- Có nên vừa lột da mặt vừa căng da mặt?
31- Sưng nề sau khi căng da mặt
32- Căng da bụng 

Chương 3: Điều trị sẹo mụn


33- Nguyên nhân gây mụn
34- Các loại mụn 

35a- Mụn ở trẻ em
35b- Mụn ở người lớn
36a- Bệnh mụn thứ phát

36b- Cách điều trị mụn
37- Đề phòng và điều trị các loại mụn mặt mà không để lại sẹo thâm
38- Điều trị sẹo mụn
39- Điều trị mụn kéo dài
40- Dùng sữa bò tươi trị sẹo mụn trứng cá
41- Điều trị sẹo mụn ở mặt 
42- Thuật cà sẹo
43- Điều trị sẹo mặt do thủy đậu
44- Điều trị sẹo lồi do xỏ lỗ tai
45- Điều trị sẹo mới ở mặt
46- Sẹo do bị rạch mặt
47- Thiếu da ghép sẹo mặt
48- Điều trị sẹo bỏng lớn ở đầu và cổ
49- Điều trị nhiều sẹo cổ
50- Điều trị sẹo lồi ở mặt do hóa chất
51- Làm mất hoàn toàn sẹo trán
52- Sẹo vùng cổ do dùng thuốc gia truyền
53- Điều trị thẩm mỹ áp xe vùng mặt
54- Điều trị sẹo ở chân
55- Điều trị sẹo ở chân do bị bỏng
56- Điều trị sẹo bỏng ở bàn tay
57- Xóa các vết sẹo nhỏ ở bàn tay
58- Điều trị sẹo ở ngón tay
59- Xóa sẹo bằng laser
60- Điều trị sẹo lồi ở vết mổ
61- Thời gian cắt chỉ vết thương ở mặt
62- Cà da trên mảnh da được ghép

Chương 4: Xóa nốt ruồi, vết xăm


63- Điều trị nốt ruồi ở đuôi mắt
64- Nốt ruồi ở mi mắt
65- Nốt ruồi dễ bị chảy máu ở da mặt
66- Điều trị các nốt đen trên mặt
67- Phẫu thuật xóa vết xăm ở chân mày
68- Xóa vết xăm lem ở mi dưới
69- Xóa vết xăm bằng bàn là?
70- Xóa vết xăm còn mới
71- Xóa bớt đen trên mặt
72- Bớt đỏ vùng má và cổ trái
73- Điều trị bớt đen vùng mặt bằng laser
74- Phẫu thuật làm mỏng môi
75- Sưng sau khi cắt môi
76- Dị tật môi và mũi do hở hàm ếch
77- Nổi mụn nhỏ sau khi xăm môi
78- Phẫu thuật thẩm mỹ môi sau khi bơm môi
79- Cấy lông mi
80- Lông mi cấy có đẹp vĩnh viễn không?
81- Cấy lông mày
82- Thuốc mọc lông mày
83- Phẫu thuật nâng chân mày
84- Xóa vết quầng thâm ở mắt và vết lem ở hai bên mép
85- Cắt mi mắt có đau lắm không?
86- Phẫu thuật thẩm mỹ mắt cho mắt sụp
87- Nguy hiểm của giải phẫu thẩm mỹ mi mắt
88- Sưng má và chảy nước mắt sau phẫu thuật thẩm mỹ
89- Sẹo biến chứng khi cắt mi dưới
90- Điều trị sẹo trên mi mắt
91- Mắt bị lõm do chấn thương mặt
92- Điều trị sẹo kéo lệch mi mắt
93- Điều trị sẹo mi mắt bằng thuốc thống sẹo
94- Phẫu thuật vá lỗ tai
95- Vá lại nơi rách tai khi bị tiểu đường, cao huyết áp

LTS: Cuốn 'Những điều cần biết về phẫu thuật thẩm mỹ' của bác sĩ Trần Thiện Tư cung cấp những kiến thức cơ bản về việc làm đẹp bằng phẫu thuật. Sách giới thiệu một số loại phẫu thuật thông dụng, những hiệu quả thu được và  nguy hiểm có thể xảy ra khi áp dụng các kỹ thuật đó. Dưới hình thức trả lời câu hỏi, sách cũng đưa ra lời khuyên cho các trường hợp cụ thể, đồng thời giải đáp những băn khoăn của nhiều người xung quanh vấn đề phẫu thuật thẩm mỹ.

Sách được Nhà xuất bản Phụ nữ ấn hành năm 2001.

Đôi điều về phẫu thuật thẩm mỹ 

Phẫu thuật thẩm mỹ là bộ môn y học làm đẹp cho con người, làm đẹp cho cuộc sống. Nhờ sự can thiệp của ngành giải phẫu thẩm mỹ hiện đại, đã có nhiều người tự tin và thành công hơn trong sự nghiệp, tình yêu, hạnh phúc gia đình. Không ít bệnh nhân đã xóa được hoàn toàn mặc cảm về dị tật bẩm sinh, những khiếm khuyết của cơ thể do tai nạn.

Yêu cầu phẫu thuật

- Tự người cần thẩm mỹ yêu cầu. Các khách nhỏ tuổi thì thường được cha mẹ hỗ trợ.

- Giải phẫu thẩm mỹ được thực hiện nhằm làm cho khách hàng đẹp hơn, theo đúng ý muốn của họ. Khách được giải thích để biết trước các kết quả có thể đạt được, những nguy hiểm có thể xảy ra để quyết định chấp nhận hay không.

- Yêu cầu của phẫu thuật viên đối với khách là các thân chủ hoàn toàn trưởng thành, khỏe mạnh và không bị bất cứ bệnh gì về thể chất cũng như về tinh thần, không nghiện rượu, ma túy…

 

Các loại phẫu thuật thông thường  

Theo thống kê của Hội Phẫu thuật Tạo hình và Thẩm mỹ Mỹ, các phẫu thuật thẩm mỹ bao gồm:

- Chỉnh hình mũi: Là phẫu thuật được thực hiện nhiều nhất, nhằm làm cho mũi thẳng lại, giải quyết chỗ gồ ở giữa mũi hoặc làm cho đầu mũi nhỏ, đẹp lại (ở những người đầu mũi quá to và xấu). Thường phẫu thuật mũi chỉ được thực hiện khi mũi phát triển đầy đủ, tức là khoảng 15-16 tuổi ở phái nữ và lớn hơn một tuổi ở phái nam.

- Làm nhỏ ngực: Áp dụng cho một số phụ nữ ngực quá to, gây trở ngại cho tâm lý và sinh hoạt. Phẫu thuật này thường cũng được thực hiện khi ngực đã phát triển hoàn toàn.

- Phẫu thuật tai: Nhằm điều trị tật tai vểnh, được thực hiện sau 5 tuổi.

- Giải quyết mụn và các vết sẹo do mụn: Nhờ có thuốc Retin-A, việc điều trị mụn ngày nay khá dễ dàng, có thể giải quyết các sẹo mụn để làm cho gương mặt đẹp trở lại.

- Giải quyết bệnh phát triển bất thường của vú nam giới: Bệnh này làm cho một hoặc hai bên vú của phái nam có dạng giống vú phụ nữ. Thường thực hiện cho người trên 16 tuổi.

- Độn ngực: Làm vú to lên ở những người có tuyến vú kém phát triển, được thực hiện khi cơ thể phát triển đầy đủ, thường là trên 18 tuổi.

  - Phẫu thuật giúp hai vú đều nhau: Sự bất đối xứng không phải chỉ ở kích thước lớn nhỏ mà còn ở vị trí cao thấp.

Độn cằm: Có thể thực hiện từ 15 tuổi trở lên, thường làm cùng lúc với nâng mũi.

- Hút mỡ ở một số vị trí cần thiết như đùi hoặc mông: Đây không phải là phẫu thuật làm cho gầy đi bớt. Một số người có trọng lượng cơ thể bình thường vẫn muốn làm phẫu thuật này để làm nổi rõ các đường cong cần thiết của cơ thể.

  Những phương pháp phẫu thuật thông thường trên cơ thể   

01- Hút mỡ bụng

Trên thế giới, phẫu thuật hút mỡ ngày càng được thực hiện nhiều và có nhiều tiến bộ (an toàn, đơn giản, kết quả cao). Trong các vị trí được hút mỡ, vùng bụng dưới rốn là nơi dễ cho kết quả tốt nhất.

Hút mỡ bụng thường được thực hiện bằng hai đường rạch da nhỏ (độ 1cm) ở phía dưới hai bên bụng và một đường ở phía dưới rốn. Bác sĩ sẽ cho ống hút nhỏ vào hút lượng mỡ thừa ở bụng. Trước đây, ống hút được sử dụng khá lớn, gây nhiều sang chấn cho da bụng và khiến vùng bụng có nhiều gợn sóng nhỏ, không được bằng phẳng sau khi hút. Ngày nay, người ta hút với ống nhỏ hơn, thời gian phẫu thuật dài nhưng kết quả tốt hơn. Tuy nhiên, để được kết quả này, da bụng cần săn chắc và đàn hồi tốt. Đối với da bụng mịn và nhão quá, hoặc có quá nhiều vết rạn do mang thai nhiều lần, cần phẫu thuật cắt bớt da và chỉnh hình thành bụng.

02- Chỉnh hình thành bụng    

* Phương pháp vô cảm

Phương pháp thường dùng là gây tê tại chỗ với thuốc an thần nhẹ. Càng ngày, người ta càng ít dùng phương pháp gây mê vì thời gian hậu phẫu kéo dài và nguy hiểm hơn so với gây tê tại chỗ.

* Thời gian hậu phẫu

Sau mổ, người được phẫu thuật bị đau nhẹ vùng mổ độ vài ngày, bụng vẫn còn căng phồng trong hai hoặc ba tuần. Các vết mổ được cắt chỉ một tuần sau. Trong 10 ngày đầu, bệnh nhân phải mang gaine (gen) để ép chặt vùng bụng mổ cả ngày lẫn đêm; 10 ngày tiếp theo chỉ cần mang gaine ban ngày. Sau một tháng, kết quả thấy rõ; nhưng phải 3 đến 6 tháng sau, da bụng mới phủ lên vùng mổ tự nhiên và đẹp hoàn toàn được.

 

03- Hút mỡ và căng da cánh tay  

Ở một số người, cánh tay quá to do ứ đọng nhiều mô mỡ, khiến họ rất ngại khi mặc áo sát nách. Phẫu thuật thẩm mỹ có thể giải quyết các trường hợp này bằng cách hút mỡ và căng da.

Ở những người trẻ, da còn đàn hồi tốt, chỉ cần hút mỡ không cũng đủ. Nhưng ở những người lớn tuổi, sau khi hút mỡ, da thường bị thừa ra và thòng xuống, trông không được gọn và đẹp. Vì vậy, cần phải căng da lại và cắt bỏ da thừa.

Để tránh sẹo, khi làm phẫu thuật cắt bỏ da, người ta thường mổ mặt trong của cánh tay, đường mổ có thể kéo dài đến nách.

* Phương pháp vô cảm

Tùy trường hợp, có thể dùng phương pháp gây tê tại chỗ hoặc gây mê. Gây tê tại chỗ kết hợp với thuốc an thần được áp dụng trong đa số trường hợp. Trong một số trường hợp đặc biệt, bác sĩ có thể áp dụng phương pháp gây mê.

* Sau mổ

Cánh tay sẽ bị căng, đau khi đưa tay lên trong vòng vài ngày sau phẫu thuật. Cánh tay phải được quấn băng lại trong vòng hai tuần. Trong vòng 6 tháng sau khi mổ, sẹo nơi mổ sẽ có màu hồng. Nó sẽ mờ dần sau một năm.

04- Phẫu thuật nâng ngực  

Ở một số phụ nữ mới sinh con, lớn tuổi hoặc bị sụt cân quá nhiều, tuyến vú thường bị thòng xuống thấp. Phẫu thuật thẩm mỹ có thể chỉnh hình và làm tuyến vú gọn, đẹp lại như hồi trẻ. Phẫu thuật này có thể thực hiện theo phương pháp vô cảm tại chỗ (gây tê tại chỗ) hay gây mê. Tùy theo từng trường hợp (ngực bị thòng nhiều hay ít), sau khi mổ, bệnh nhân có thể có sẹo nhỏ vòng quanh phần da đỏ của đầu vú, hay sẹo hình T ngược từ phần da đỏ của vú xuống dưới.

* Sau mổ

Nơi mổ được cắt chỉ sau 15 ngày. Người được phẫu thuật cần băng ép hoặc mang nịt vú chặt cả ngày và đêm trong một tháng.

 

05- Phẫu thuật thu nhỏ tuyến vú  

Kỹ thuật mổ nhằm thu lại tuyến vú quá lớn, gây đau lưng và trở ngại cho một số hoạt động về thể dục, thể thao... Sự phát triển quá mức của tuyến vú bắt đầu từ tuổi dậy thì. Để càng lâu, việc phẫu thuật càng trở nên khó khăn hơn vì với trọng lượng của tuyến vú, da sẽ bị giãn ra, thòng xuống. Do đó, thời gian tốt nhất để phẫu thuật là khoảng 14-15 tuổi; vì vào thời điểm này, da săn chắc, đàn hồi tốt. Ở người lớn tuổi, bác sĩ phải mổ bỏ da, mỡ và một phận mô tuyến vú. Phẫu thuật phức tạp hơn và sẹo sẽ rõ hơn.

* Sau mổ

Ngực sẽ được băng ép trong 15 ngày, sau đó được thay bằng nịt vú ép chặt ngày đêm trong vòng một tháng. Chỉ nên tập thể dục sau hai tháng sau.

 

06- Phẫu thuật thẩm mỹ cho phụ nữ sau khi sinh  

Khi đã trở thành người mẹ, bạn không thể đẹp như thời chưa mang thai được. Hầu hết phụ nữ đều hạnh phúc khi được mang thai và trở thành người mẹ. Tuy nhiên, với một số người, sự thay đổi trên cơ thể khi mang thai làm họ kém vui. Khi này, phẫu thuật thẩm mỹ không những sẽ giúp họ phục hồi dáng vẻ trước khi mang thai mà còn cải thiện nó. Các phẫu thuật giúp phụ nữ sau khi sinh lấy lại dáng vẻ trước khi mang thai gồm có:

Phẫu thuật độn ngực

Trong thời gian mang thai, vú căng lên do sự phát triển của các tuyến nhằm tạo ra sữa nuôi con. Một số người có băn khoăn là việc cho con bú sẽ làm ngực mình xấu đi. Điều này không đúng, việc cho con bú sữa mẹ rất tốt cho sự phát triển cơ thể của cháu bé, đồng thời kích thích sự phát triển của cơ thể người mẹ và tạo tình mẫu tử gắn bó cho cả hai mẹ con. Sau thời gian cho con bú, các tuyến tiết sữa hết hoạt động có teo nhỏ lại, làm cho vú bị nhỏ đi so với lớp da bao bọc chung quanh. Để vú to trở lại và tiếp tục căng phồng như trước, cần phẫu thuật độn vú bằng túi nước biển. Phẫu thuật này cũng đơn giản, người ta độn vào dưới tuyến vú hoặc dưới cơ ngực một túi nước, sau đó vú sẽ căng trở lại như bình thường.

Phẫu thuật cố định vú cao hơn

Một số người, sau nhiều lần có thai và cho con bú, da vùng tuyến vú bị giãn ra, làm cho tuyến vú bị hạ thấp xuống dưới vị trí bình thường mà các cố gắng tập thể dục đều không khắc phục được. Phẫu thuật thẩm mỹ có thể giải quyết trường hợp này bằng cách cắt bớt da và cố định vú về vị trí cũ. Đây là phẫu thuật treo vú (mastopexie). Sau phẫu thuật, tuyến vú sẽ gọn và chắc hơn.

Phẫu thuật chỉnh hình thành bụng

Bụng là nơi chứa thai nhi trong hơn 9 tháng, do đó da và các tổ chức thành bụng bị thay đổi. Phẫu thuật thẩm mỹ có thể điều trị trường hợp này bằng cách hút mỡ, cắt bớt da và may các cơ bụng cho chặt lại.

Hút mỡ

Một số vị trí như hông, đùi, lưng hoặc cánh tay có thể ứ đọng nhiều mỡ, làm cơ thể mất cân đối và kém đẹp. Việc phẫu thuật hút mỡ các vị trí này sẽ làm cơ thể gọn, đẹp hơn.

Phẫu thuật bộ phận sinh dục ngoài

Khi sinh, phần ngoài bộ phận sinh dục có thể bị rách hoặc giãn rộng. Phẫu thuật chỉnh hình âm hộ (labioplasty) giúp làm đẹp và hẹp lại phía ngoài cơ quan sinh dục nữ.

Điều trị vết nám mặt sau khi sinh

Vài nghiên cứu cho thấy khoảng 3/4 phụ nữ khi mang thai có thể bị nám da mặt chút ít. Nếu vết nám nằm ở biểu bì, có thể điều trị bằng cách lột da mặt.

Là phụ nữ đang mang thai lần đầu hoặc sắp sửa mang thai, bạn sẽ băn khoăn nhiều về việc tình trạng mang thai và nuôi con bằng sữa mẹ sẽ gây một số thay đổi trên cơ thể. Phần lớn những thay đổi này có thể giải quyết được nhờ phẫu thuật thẩm mỹ. Đây là một đóng góp quan trọng của ngành phẫu thuật trong việc đem lại niềm vui, hạnh phúc cho gia đình. Vì vậy, bạn có thể yên tâm vì đã có cách giải quyết tốt đẹp cho những thay đổi của cơ thể trong thời gian tới.

 

07- Điều trị thu nhỏ tuyến vú ở phái nam  

Ở phái nam có một số người vú đặc biệt phát triển giống như nữ giới. Đó là bệnh vú nam bị hóa (gynecomastia). Tình trạng này có thể xảy ra ở một hay hai bên ngực và chiếm tỷ lệ khá cao, có thể từ 40 đến 60%, theo thống kê ở Mỹ.

Nguyên nhân là do dùng một số thuốc nào đó (thuốc có kích thích tố nữ, hoặc thuốc giúp lên cân có chất corticoides), do bị bệnh về gan hoặc nội tiết. Bất thường này có thể điều trị bằng phẫu thuật. Đặc biệt, phẫu thuật thẩm mỹ có thể điều chỉnh ngực trở lại hoàn toàn bình thường với rất ít sẹo nơi mổ.

Người cần phẫu thuật phải hoàn toàn bình thường về thể chất lẫn tinh thần. Những người quá nặng cân, nghiện rượu hay nghiện ma túy không phải là đối tượng cho phẫu thuật này. Bác sĩ sẽ khuyên họ ngừng dùng các loại thuốc gây nên tình trạng trên. Nếu ngực bình thường trở lại thì không cần phẫu thuật.

Trước khi phẫu thuật, cần tìm nguyên nhân gây gynecomastia như rối loạn chức năng gan, dùng các loại thuốc có kích thích tố nữ, hoặc các loại thuốc giúp lên cân có chất corticoides. Bệnh nhân cũng được chụp X-quang tuyến vú, không chỉ để loại trừ khả năng ung thư vú mà còn để biết cấu trúc tuyến vú có nhiều mô mỡ hay nhiều tổ chức tuyến để chọn đường phẫu thuật thích hợp.

Chuẩn bị phẫu thuật

Tùy trường hợp, bệnh nhân sẽ được dặn về chế độ ăn uống và dùng một số thuốc trước.

Một số điều cần lưu ý

- Nên ngưng hút thuốc một hoặc hai tuần trước khi mổ và trong thời gian mổ cho đến khi vết mổ lành hẳn, vì thuốc lá gây chậm lành vết mổ.

- Đa số người bệnh có thể ra về sau phẫu thuật, nhưng một số ít trường hợp cần nằm lại qua đêm. Bác sĩ phẫu thuật sẽ cho biết cụ thể.

- Tùy trường hợp, có thể gây tê tại chỗ hoặc gây mê.

Phẫu thuật có thể tiến hành theo nhiều cách. Đa số là mổ theo đường vòng quanh núm vú, tức là ở giới hạn giữa da đỏ và da trắng ở vú. Có thể kết hợp hút mỡ hoặc cắt bớt da ở ngực khi cần.

Sau phẫu thuật

Vùng ngực sẽ được quấn băng chặt trong vài ngày. Quanh chỗ mổ sẽ sưng nề trong vài tuần, có khi vài tháng. Bạn sẽ được khuyên đi lại bình thường một vài ngày sau mổ và sẽ được cắt chỉ một hoặc hai tuần sau.

- Hoạt động tình dục nên hạn chế trong một hoặc hai tuần.

- Cử động mạnh có thể thực hiện sau ba tuần. Tránh các môn thể thao có thể va chạm, gây sang chấn vùng ngực mới mổ trong ít nhất 4 tuần.

- Trong sáu tháng đầu nên tránh nắng vùng mổ vì có thể gây sẹo thâm đen, xấu. Khi ra nắng (như tắm biển) nên dùng kem chống nắng.

Các nguy hiểm có thể gặp do phẫu thuật

Giống như các phẫu thuật khác, người có nhu cầu phẫu thuật điều trị vú bị nữ hóa được biết trước về một số biến chứng có thể xảy ra (dù rất ít) như:

- Nhiễm trùng.

- Tổn thương da ngực.

- Chảy máu nhiều khi mổ.

- Phản ứng với thuốc tê.

- Ứ đọng dịch trong tuyến vú một thời gian.

- Nơi mổ bị sẹo xấu.

- Đầu vú bị biến dạng.

Sau phẫu thuật, nếu hai bên vú không đều, không đối xứng nhau, phải phẫu thuật lại sau một thời gian.

Người được giải phẫu cần đồng ý và chấp nhận các rủi ro nếu có (không do ý muốn của bác sĩ giải phẫu).

Phẫu thuật điều trị bệnh nữ hóa tuyến vú ở phái nam có kết quả tốt và lâu dài. Nếu áp dụng kỹ thuật mổ theo phương pháp thẩm mỹ, sẹo nơi mổ rất nhỏ và ngực trở lại gần như hoàn toàn giống ngực nam giới bình thường.

 

08- Cà da mặt   

Cà da mặt là phương pháp điều trị rất có kết quả trong trường hợp da mặt bị gồ ghề, xấu do sẹo mụn, chấn thương hay do phẫu thuật. Ngoài ra, cà da mặt còn được dùng trong một số trường hợp đặc biệt như:

- Da mặt bị lão hóa do ánh nắng mặt trời.

- Điều trị mụn đang tiến triển do da mặt quá dày.

- Bệnh nhân điều trị mụn rất nhiều bằng kháng sinh nhưng không đạt kết quả.

Phẫu thuật cà da mặt khá phức tạp, đòi hỏi phẫu thuật viên phải có kiến thức đầy đủ cũng như kinh nghiệm về phẫu thuật.

Dù việc cà da mặt đã được người Ai Cập thực hiện 1.500 năm trước công nguyên nhưng các phẫu thuật cà da hiện đại chỉ mới được thực hiện từ năm 1905 do Kromeyer, phẫu thuật viên người Đức thực hiện nhằm giải quyết các sẹo mụn. Kromeyer đã công bố rằng, phương pháp mới dùng máy cà da rất có kết quả trong phẫu thuật về da. Tác giả cũng cho biết nếu không cà vượt quá tầng hạ bì thì kết quả sẽ tốt, không bị sẹo. Kết quả của nơi cà da đẹp hay xấu là tùy theo từng vùng và theo từng người một. Các nhận định này rất quan trọng và làm nền tảng cho phẫu thuật về da sau này.

Từ thập niên 1980 đã có một số tiến bộ trong cà da như sau:

- Yarborough giới thiệu phương pháp cà da sớm để giải quyết các sẹo do chấn thương.

- Johnson đề nghị ghép da rời từng khúm nhỏ để giải quyết các sẹo sâu.

- Hankke nói rõ tác dụng của nhiều loại thuốc tê lạnh tại chỗ trong việc gây tổn thương da. Ông cũng cho biết có thể dùng phương pháp cà da để điều trị u sợi thần kinh.

- Mandy nghiên cứu việc dùng tretinoin trước khi cà da.

- Pinskin và các tác giả khác nghiên cứu tác dụng của các gạc có thấm chất sinh học trong việc làm lành sẹo nơi cà da.

Từ năm 1990 về sau, cà da mặt đã thành một chuyên ngành ổn định để làm phẳng lại da mặt bị lồi lõm do chấn thương hay bệnh tật.

Các chỉ định cà da mặt gồm có:

- Mụn đang tiến triển.

- Sẹo do mụn.

- Sẹo do chấn thương.

- Sẹo do phẫu thuật.

- Da bị lão hóa do ánh nắng mặt trời.

- Điều trị các nếp nhăn ở mặt.

- Rối loạn sắc tố.

- Xóa vết xăm ở da: Tình trạng da bị chấn thương, dính các dị vật vào giống như bị xăm có thể điều trị rất tốt bằng phương pháp cà da. Việc cà da nếu được thực hiện ngay sau khi bị thương, sẽ phòng ngừa được tình trạng da bị thâm đen. Nhưng nếu người bệnh đến bác sĩ muộn, vết thương đã lành da non rồi thì phải chờ đến 8 tuần sau mới nên cà da. Cà da trong giai đoạn này ngoài việc lấy dị vật còn giúp cho sẹo do chấn thương được đẹp.

Xóa vết xăm thẩm mỹ thường khó khăn nếu vết xăm khá sâu. Thường chỉ nên cà da xóa vết xăm cho người trên 25 tuổi, thực sự muốn xóa vết xăm và tâm lý hoàn toàn ổn định.

- Bệnh mũi bị biến dạng, sần sùi giống mũi lân (Rhinophyma).

- Bệnh u sợi thần kinh ở da: Khoảng 85% bệnh nhân bị u sợi thần kinh có bệnh tích ở mặt, làm cho da mặt xấu đi nhiều. Phẫu thuật sẽ giải quyết các khối u lớn, nhưng không thể mổ hàng trăm u nhỏ. Do đó, cà da mặt là biện pháp tốt nhất để giải quyết các trường hợp này.

- Bệnh Trichóepithelioma: Là loại u ngoài da, gây biến dạng da mặt rất nhiều. Một số trường hợp có thể thoái hóa thành ung thư tế bào đáy ở da. Phương pháp cà da mặt điều trị bệnh này cho kết quả rất tốt. Có ít trường hợp bệnh tái phát.

 

09- Những thành tựu mới trong việc lột da mặt  

Lột da mặt là phương pháp lấy bớt lớp ngoài của da (danh từ y học là tầng sừng) gồm các tế bào da bị thoái hóa, dày lên và chứa đựng nhiều bệnh tích của sự lão hóa. Thuốc lột thường là các hóa chất, tác dụng lên da mặt, ăn mòn các lớp da phía ngoài. Tùy theo độ sâu của lớp da bị ăn mòn, người ta chia lột da mặt làm ba loại:

- Lột nhẹ: Lấy hết lớp biểu bì đến tầng tế bào đáy nằm giữa phần biểu bì và bì.

- Lột trung bình: Độ sâu đến phần gai bì của da.

- Lột sâu: Phần da lột sâu đến phần tổ chức mạng của da.

Yêu cầu đối với thuốc lột mặt là cách dùng đơn giản nhất, ít biến chứng cho da mặt và ít nguy hiểm cho sức khỏe người sử dụng. Với các yêu cầu đó, thuốc lột da bằng axit trichloroacetic (gọi tắt là TCA) đáp ứng được các yêu cầu đó. Thuốc này không độc cho cơ thể, không gây dị ứng. Các dung dịch pha vào nước có thể dùng ở các nồng độ khác nhau khi cần thiết. Sau khi pha chế, thuốc có thể giữ được khoảng hai năm.

 

10- Kỹ thuật lột da

Da mặt cần được chuẩn bị sạch trước hai tuần. Người bệnh cần sẵn sàng để lột, không trang điểm khi đến phòng mạch. Da mặt được làm sạch bằng axit glycolic 5%, sau đó sát trùng với cồn 70 độ. Không dùng acetone hay các chất tẩy da khác để rửa da vì các chất này có thể làm cho bệnh nhân khó chịu và khiến TCA ngấm vào sâu hơn trong da. Tác dụng của các chất thuốc rửa da là làm sạch lớp biểu bì, làm cho mỏng và sạch lớp tầng sừng. Nếu cần lột da sâu, có thể tăng nồng độ axít hoặc lột da bằng cách thoa thuốc nhiều lần.

Sau khi rửa sạch da, khách được đặt nằm trên bàn mổ (đầu cao khoảng 45 độ). Tư thế này làm cho thuốc lột không chảy vào mắt. Không cần sử dụng máy theo dõi nhịp tim mặc dù có thể bác sĩ muốn có sẵn đường truyền tĩnh mạch để truyền các thuốc an thần. Cảm giác bị nóng do lột bằng TCA thường nhẹ và sẽ hết trong vài phút.

Cách lột da được áp dụng chung cho tất cả các dung dịch thuốc lột có nồng độ khác nhau. Bác sĩ sẽ dùng miếng gạc nhỏ xếp lại làm đôi để bôi thuốc TCA lên da. Dùng que bông để bôi thuốc lên da cũng được nhưng không đủ mạnh để thuốc thấm đều lên da.

TCA là hóa chất có tác dụng tốt và làm đông chất protein ở da, làm cho da trắng  nhanh và càng căng vùng trắng. Tính chất khi lột nhẹ và lột trung bình có thể sắp theo thứ tự như sau:

Da không có màu trắng: Da có vẻ bóng và láng hơn nhưng không thay đổi màu sắc. Đây là trường hợp chỉ lột lớp biểu bì bên ngoài.

Da có trắng nhẹ không đều: Thêm vào vẻ bóng sáng của da, trên da thấy rải rác các điểm trắng. Đây là lột da sâu giữa lớp biểu bì.

- Da trắng hoàn toàn với màu hồng phía dưới: Là lột da sâu đến tầng đáy của biểu bì.

- Da trắng cứng và không có lớp hồng ở dưới: Đây là lột da sâu đến hết gai bì và bì.

 

Người ta dùng TCA nồng độ từ 10% đến 25% để lột da ở sâu biểu bì và nồng độ 30% đến 40% để lột da sâu đến gai bì và bì. Chiều sâu của lớp da được lột phụ thuộc vào sự chuẩn bị trước, độ nhờn, bề dày của da, số lượng chất axit được dùng. Việc bôi lại chất axit trên da đã trắng sẽ làm axit thấm sâu vào da hơn. Do đó, để an toàn, nên dùng TCA nồng độ thấp và bôi nhiều lần khi cần.

Sau khi bôi thuốc, lột đến độ sâu cần thiết, bác sĩ sẽ lau mặt người bệnh với nước thông thường. Điều này giúp pha loãng chất axit ứ đọng, ngăn không cho axit thấm sâu. Sau đó, thoa da bằng kem Hydrocortisone 1% cho da được ướt đều. Điều này làm bệnh nhân dễ chịu và giảm cảm giác ngứa.

 

11- Sau khi lột da mặt bằng TCA    

Người được bôi thuốc TCA nên rửa mặt hai lần mỗi ngày với các loại xà phòng rửa mặt nhẹ và bôi da bằng kem Hydrocortisone 1% thường xuyên cho da được mềm. Không cần bôi kháng sinh. Các trường hợp lột mặt mạnh (sâu trung bình) có thể uống kháng sinh trong 5-7 ngày sau khi lột da. Vì việc lột da không tạo vết thương hở nên không cần dùng kháng sinh trước và trong khi lột da.

Nếu bị nhiễm trùng da (do vi trùng staphylococcus hay streptococcus, hiếm gặp), nên dùng thuốc kháng sinh cephalosporin, uống ngày hai lần.

- Lột nhẹ (biểu bì): Lành trong 3 đến 4 ngày.

- Lột sâu hơn (gai bì): Lành trong 6 đến 8 ngày.

Điều quan trọng là 48 giờ sau khi da lột được lành, bệnh nhân phải dùng thuốc Retin-A hay axit alphahydroxy cùng với hydroquinone và thuốc che nắng phổ rộng. Da trở lại bình thường sau khi bôi thuốc hai tháng. Trong thời gian đó, bệnh nhân phải tránh nắng, được theo dõi và dùng thuốc dưỡng da thích hợp.

Do không gây các vết thương sâu nên các biến chứng như sẹo, nhiễm trùng, da bị đỏ kéo dài và mất màu vĩnh viễn rất ít xảy ra.

Kết quả của phương pháp lột da bằng TCA theo thời gian

Lột da sâu có kết quả rất lâu. Với phương pháp lột nhẹ, nếu có dùng thêm các thuốc dưỡng da thì kết quả lâu hơn, có thể kéo dài đến cả năm (nếu không dưỡng da, kết quả chỉ được khoảng 3 tháng). Ở các trường hợp lột sâu, tác dụng kéo dài đến nhiều năm.

Thời điểm bôi thuốc lột lần kế tiếp được xác định tùy theo lần lột đầu là nhẹ hay mạnh. Nếu lột nhẹ, có thể lột lại sau một hai tuần. Nếu lột sâu trung bình, cần chở 6 tuần và nếu lột sâu thì phải chờ ít nhất 2 tháng.  

Tóm lại, TCA là thuốc lột da mới dễ dùng và ít tai biến, là phương tiện an toàn để làm trẻ hóa da mặt, đem lại mùa xuân cho da mặt, góp cơ thể con người.

Chương 2: Da

 

12- Tái tạo da mặt

Phân biệt các loại da và cách chăm sóc

"Cháu 18 tuổi, hay nổi nhiều mụn. Bác sĩ da liễu nói cháu bị da dày, nhờn. Da dày là gì? Có bao nhiêu loại da mặt và cách chăm sóc như thế nào?".

Nói một cách tổng quát, da mặt được chia làm ba loại: da nhờn, da khô và da mịn. Da nhờn thường dày, dễ bị mụn. Để phân biệt các loại da, cháu có thể đọc bảng phân loại như sau:

 

 

 

 

Loại da Chẩn đoán Nên tránh Săn sóc và điều trị
Nhờn

- Da dày và bóng.

- Phần dày thấy rõ ở giữa mặt, nhất là mũi, rãnh giữa mũi và má.

- Các lỗ chân lông giãn rộng.

- Nhiều chất nhầy, nhất là ở mũi và cánh mũi.

- Đèn cho sạm da.

- Tia tử ngoại của mặt trời (cần dùng kem chống nắng).

- Các chất có thể gây mụn.

- Xà phòng có glycérine

- Dùng xà phòng nhiều dầu.

- Thoa kem có chất gôm mỗi tuần hai lần, sau đó rửa sạch.

- Kem chống nhờn.

Khô

- Da căng và nhám.

- Có cảm giác căng, bị châm chích, bị bỏng nhẹ ở mặt.

- Da kém mềm và kém đàn hồi.

- Xà phòng tẩy mạnh.

- Các dung dịch có pha rượu.

- Nước có chất vô

 
NXCUONG

© 2011 Bản quyền thuộc HỘI PHẨU THUẬT THẨM MỸ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (HSPAS)

Văn phòng thường trực: 83 Trần Thiện Chánh, Phường 12, Quận 10, TP.HCM

Tel: (08) 3863.3683 - Fax: (08) 3862.7474 - Hotline: 0909.344.202

Email: hoithammy@gmail.com

Số tài khoản VND: 102010000555663

Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Công Thương Việt Nam - Chi Nhánh TP.HCM

Thiết kế web bởi Vipcom & LOCPHAT

Danh mục chính

Lượt truy cập: 9323980